chevron_left
chevron_right

Đọc truyện

Chương 8: Bí ẩn được khai quật

Cả không gian rộng lớn vang vọng lại từng chữ một của ông Hùng:

“Chào mừng các vị đã đến với buổi lễ dâng hiến hạt giống cho đấng Vạn Chi Hoa.”

Nói xong, hắn lấy xô nước tạt vào mặt của Thúy Lan. Lan dần tỉnh dậy. Cô ấy hốt hoảng khi thấy bản thân đang bị xích lại trên bàn tế. Trong khi nụ cười của ông Hùng cười đắc chí đầy nham hiểm. Lan hét lớn vùng vẫy trong sợ hãi:

“Ông đang làm gì với tôi vậy? Thả tôi ra mau!”

Gã Hùng dịu dàng nâng cằm của Lan như đóng vai một người cha hiền hậu đang dạy bảo con gái. Gã khẽ cười:

“Con gái yêu của cha. Đêm nay sẽ là cột mốc đánh dấu sự trưởng thành của con. Con sẽ được tái sinh trong hình hài hoàn hảo hơn. Là một chồi non tương lai của Đấng Vạn Chi Hoa.”

Thúy Lan vũng vẫy trong sợ hãi. Cô run rẩy đáp trả:

“Không…không…tôi không cần…Tôi không cần trưởng thành theo cách đó. Tôi không muốn phải tái sinh để làm gì cả…”

Giọng nói của ông Hùng trở nên nghiêm nghị hơn:

“Con yêu à. Con cái là phải biết báo hiếu cho cha mẹ. Con không được cãi lời cha như vậy. Con phải ngoan thì Ngài mới thương con được.”

Thúy Lan lắc đầu. Cô sợ hãi nói:

“Không…Làm ơn…Tha cho tôi. Tôi không muốn. Tại sao phải làm vậy với tôi?”

Giọng ông Hùng lạnh như băng đáp:

“Vì con là một trinh nữ thuần khiết. Sự ngây thơ và trong sáng ấy là thứ Ngài cần ở con.”

Nói xong, ông Hùng liếc mắt sang tôi. Hắn tiếp tục nói:

“Đáng lý ra phải là con bé đó. Nhưng nó đã ở nơi phố thị ô uế làm vấy bẩn sự trong sạch nên nó không còn là ứng cử viên sáng giá nữa.”

Tay chân tôi bị siết chặt hơn do cố vùng vẫy mạnh. Mắt tôi đỏ ngầu phần vì bị chạm vào tự ái. Nhưng phần lớn là cơn thịnh nộ của tôi ép tôi phải làm gì đó, vùng vẫy, cựa quậy, bằng cách nào đó phải lao ra cứu cô ấy càng nhanh càng tốt.

Tôi không thể chứng kiến cảnh này lâu.

Dì Hương bất lực nhìn con gái mình đang chuẩn bị đem ra làm vật tế thần. Giọng bà nghẹn lại do bị bịt miệng như cố muốn nói gì đó. Nhưng bà đã bỏ cuộc. Bà gục xuống, khóc nức nở như muốn cầu xin sự tha thứ cuối cùng từ chồng mình.

Nhưng sau tất cả, ông Hùng vẫn bỏ ngoài tai. Hắn tiếp tục nghi thức hiến tế điên loạn của mình.

“Hỡi đấng trên cao của mùa xuân vĩnh cửu. Nhân ngày trọng đại hôm nay, con xin phép được hiến dâng đứa con mà con đã hết mực thương yêu và chăm sóc nên người. Linh hồn thuần khiết của nàng thiếu nữ này sẽ là món quà quý giá mà con dâng hiến cho Người. Xin Người hãy đón nhận tình cảm và đức tin trung thành này của con…Sa-ha-sa Phụ-xà, Sa-ha-sa Ba-đà, Phú-pa Đề-vị, Sát-va-sắc ti!”

Ngay khi hắn định cầm dao để đâm chết Thúy Lan. Chú Ba Triết không biết từ lúc nào đã tháo được khăn bịt miệng ra và ông gào lên thật lớn với nỗi chua xót rằng:

“KHÔNG ĐƯỢC LÀM HẠI CON GÁI CỦA TA!”

Tiếng gào thét xé lòng của ông vọng lại khắp gian phòng. Ánh mắt tôi mở to nhìn ông ấy. Cảm xúc của tôi lúc này thật sự rất bất ngờ.

Chú Ba Triết có con? Và Thúy Lan là con gái của ông ấy? Rốt cuộc chuyện này là sao?

Sắc mặt ông Hùng tối sầm lại:

“Từ khi nào ông được phép mở miệng ra nói được vậy?”

Chú Ba Triết không cam tâm. Ông dùng hết mọi sức để nói ra hết nỗi niềm xé lòng bên trong. Và từ đây, sự thật đã được hé lộ:

“Ngươi! Chính ngươi là kẻ đã cướp người con gái ta yêu thương. Nàng đã là hôn thê của ta, đã hứa hẹn sẽ về làm vợ ta. Chính ngươi đã ép nàng phải hủy hôn mà cưới ngươi. Trong khi nàng ấy đang mang bầu con bé, con của ta. Ngươi đã lấy đi tất cả hạnh phúc bé nhỏ của ta.”

Nhưng gã Hùng chỉ cụt ngủn lạnh lùng đáp:

“Thì sao? Có gì ấm ức lắm hả?”

Chú Ba Triết tiếp tục bộc bạch ra hết nỗi uất hận trong lòng:

“Ngươi đã dùng thứ đó, cái “Mề đay của tiên cá” để thôi miên Hương phải tuân theo. Nó đáng lẽ là thứ bị cấm. Nàng phải rời bỏ ta để gả ngươi làm chồng mà không một lý do nào cả. Giờ ngươi còn tự nhận cô bé đó là con của ngươi và đem nó lên làm vật hiến tế cho thánh thần bệnh hoạn của các ngươi. Đúng là dã tâm tày trời mà.”

Tôi không biết liệu đây có phải là sự thật không nhưng ánh mắt đầy mệt mỏi và đau đớn của dì Hương đã nói lên tất cả. Từng câu nói của chú Ba Triết như khiến gã Hùng sôi máu. Hắn lao nhanh đến và túm lấy cổ áo ông mà hét vào mặt thật dữ tợn:

“Câm mồm đi thằng già! Nói nữa là tao bóp cổ mày cho đoàn tụ với con gái mày luôn đấy!”

Giọng Lan run run. Nước mắt cô chảy dài xuống nền đá lạnh nói với chú Ba Triết rằng:

“Cha ơi! Cha đừng nói nữa! Mẹ và con đã biết điều này lâu rồi. Xin cha đừng chọc giận hắn nữa.”

Chú Ba Triết đành phải nghẹn lòng im lặng. Lúc này, gã Hùng mới buông tha cho ông. Hắn ngước cổ lên trên trần gian phòng cao vút mà thở dài rằng:

“Tao đang tự hỏi rằng tại sao mày lúc nào cũng hơn tao vậy? Tại sao mày lúc nào cũng tài giỏi, được mọi người yêu quý? Còn tao thì không? Chính ta đã là nâng đỡ mày, là người bạn đầu tiên bảo vệ mày. Vậy mà cớ gì mày lại vượt mặt tao thế, người anh em?”

Hắn nhìn dáng vẻ thảm hại của chú Ba Triết lúc này mà không khỏi nhếch lên một nụ cười khinh bỉ và gian xảo:

“Sẵn đây có con cháu của ngươi ở đây ta cũng phải vạch ra bộ mặt thật của ngươi. Lão già này ngày xưa là một thằng pháp sư đấy. Cả cái gia tộc nó cũng vậy. Hết thế hệ này đến thế hệ khác. Chuyên vẽ bùa vẽ chú, thực hiện mấy chuyện mê tín dị đoan cho những kẻ nhẹ dạ cả tin chả khác gì ta cả. Vậy mà lại được cả cái làng này yêu quý nó, kể cả bà Hương này. Lúc đó nó mới có mười tuổi. Tại sao vậy Triết? Tại sao mày lại được cái đặc ân đó mà tao thì không?”

Chú Ba Triết cúi gầm mặt xuống không nói gì thêm. Một lúc sau, ông mới khàn khàn nói:

“Ông hiểu lầm rồi. Nghề pháp sư là nghề trừ tà đuổi ma, cầu mưa cầu nắng cho bá tánh an vui. Chứ tôi không lừa gạt hay làm điều bất chính với bất kỳ ai cả. Đó là truyền thống của gia đình tôi. Nhưng giờ tôi đã không làm việc đó nữa.”

Rồi ông khẽ nhìn sang tôi nói tiếp:

“Ta xin lỗi con, Mai à. Ta và cha của con đã che giấu sự thật này về gia tộc chúng ta. Ta…không còn gì để nói nữa. Ta xin lỗi.”

Lúc này, hàng tá câu hỏi cứ đổ dồn vào đầu tôi.

Nếu chú Ba Triết và cả gia tộc mình đều hành nghề pháp sư thì năng lực nhìn thấy thực thể siêu nhiên thông qua giấc mơ chẳng phải ngẫu nhiên sao? Và nếu chú Ba Triết là cha ruột của Thúy Lan thì không lẽ mình và cô ấy là…chị em họ sao?

Ông Hùng từ từ lùi lại phía sau. Hắn ta nở một nụ cười đắc ý vô cùng:

“Đúng rồi đó Triết! Cứ mang cái cảm giác tội lỗi đó trước mặt con cháu của mày đi. Vì mày đã lừa gạt cháu gái mày và trở nên quá vô dụng để giải cứu con gái ruột của mày. Hãy để cho chị em chúng nó nhìn mày là một gã đàn ông bất tài và dối trá đi.”

Nói rồi, hắn nhanh chân trở lại bàn tế. Cầm con dao lên với đốt ngón tay trắng bệt chuẩn bị hành quyết Thúy Lan. Giọng hắn hung dữ nói:

“Thật là mất thời gian! Ta phải nhanh chóng hiến dâng linh hồn thuần khiết này cho ngài ấy mới được! Ngài đang đói lắm rồi!”

Nói xong, hắn cắm con dao mạnh xuống Thúy Lan. Và rồi…

KENG-!

Một điều kỳ lạ xảy ra.

Ông Hùng không đâm vào ngực Thúy Lan.

Ông ta đâm vào nền bệ đá sát bên người cô ấy.

Một khoảng im lặng kéo dài sau đó.

Điều này thật kỳ lạ.

Thúy Lan nghiêng đầu, ngơ ngác nói:

“Cha…?”

Bàn tay ông Hùng run rẫy đến trắng bệt. Hai dòng nước mắt chảy xuống má của Lan. Ông ta đang khóc. Và sau đó là một tiếng cười. Tiếng cười của một kẻ bị tâm thần. Ông Hùng giờ đây vừa khóc vừa cười, mang hai thái cực cảm xúc hỗn độn bị nỗi đau và tội lỗi dày vò. Ông ta quỳ gục xuống nền đá, ôm đầu và lầm bầm những điều tưởng như vô nghĩa:

“Cuối cùng thì…ta vẫn không thể làm điều này với con gái ta được. Dù gì ta đã nuôi nó khôn lớn…Thấy nó ăn, thấy nó mặc, thấy nó được đi học, thấy cười hạnh phúc. Ta vui lắm…Nhưng nó có phải con của ta đâu… Ta phải hiến tế nó…Thế giới này cần được cứu rỗi…Ha ha ha…Ta điên rồi…ta bị điên mất rồi…Có người cha nào lại đi hiến tế con mình không?…Ta thật sự bị điên rồi…Ha ha ha ha ha…”

Nụ cười man dại ấy cứ kéo dài mãi. Ông ta lảo đảo đứng lên. Loạng choạng bước đi một cách khó khăn. Ông ngửa cổ cao lên trời. Nụ cười man dại ấy lại lớn hơn nữa. Và rồi…

PHẬP!

Ông Hùng đã tự đâm con dao vào chính mình. Miệng hắn ho ra máu. Hắn ngã gục xuống đất. Tựa đầu kế bên Thúy Lan. Ánh mắt hắn nhìn cô dịu dàng hẳn đi. Hắn yếu ớt nói với cô rằng:

“Ta xin lỗi con, Lan à… Ta không xứng đáng là cha của con… Tội lỗi này của ta sẽ mãi không thể gột rửa hết được…Ta mong con…hãy quên ta và…sống một cuộc đời tốt hơn…Vĩnh biệt…con…”

Ông Hùng cuối cùng cũng đã trút hơi thở cuối cùng. Ngôi sao sáng lấp lánh trong đôi mắt năm ấy của ông đã tắt lịm đi. Tiếng Lan khóc nhỏ nhẹ. Nhưng đó không phải tiếng khóc của một người con mất cha. Mà là tiếng khóc sự xót thương dành cho một kẻ đã lạc lối trong quãng đời còn lại. Cảnh tượng ấy khiến tôi có những cảm xúc khó tả.

Thật là thảm hại!

Đó là những gì tôi nghĩ về gã Hùng.

Một khoảng không im lặng kéo dài đến ám ảnh.

Tôi không biết phải nhìn đi đâu. Nhìn xác ông Hùng thì không nỡ. Nhìn Lan thì thấy lòng quặn lại. Anh Hải thì mặt không biến sắc. Cuối cùng tôi đành nhìn xuống nền đá lạnh dưới chân mình.

Rồi tôi nghe thấy một tiếng động nhỏ.

Dì Hương đang cố xoay người về phía chú Ba Triết. Hai tay vẫn còn bị trói ra sau lưng, cổ tay hằn đỏ dấu dây thừng. Dì không nói gì. Chú Ba Triết cũng vậy. Họ chỉ nhìn nhau sau lần đầu tiên trong mấy chục năm, tôi đoán vậy.

Ánh mắt của dì Hương vốn đã mệt mỏi suốt từ lúc chúng tôi quen biết nhau. Nhưng lúc này lại có một thứ gì đó khác hẳn. Chẳng phải nhẹ nhõm mà cũng không hẳn là đau. Cảm giác như một người đã gánh một tảng đá quá lâu, đến mức quên mất rằng lưng mình đang còng xuống. Và giờ tảng đá đó đột ngột biến mất, nhưng lưng vẫn chưa kịp thẳng lại.

Chú Ba Triết nhắm mắt lại. Hai vai ông run nhẹ. Chỉ một lần thôi, rồi lại bình thản trở lại như cũ. Một kiểu phản xạ từ một người đã cố kìm nén cảm xúc quá lâu và không muốn ai phải nhìn thấy vẻ yếu đuối đó của bản thân.

Dì Hương khẽ thì thầm qua lớp vải bịt miệng đã buông lỏng, giọng khản đặc hẳn đi:

"Triết…"

Chỉ một chữ đó thôi. Nhưng trong cái cách dì gọi tên ông nhẹ như một làn sương mỏng. Nó nghẹn ngào và đầy xót xa.

Chú Ba Triết mở mắt và nhìn dì Hương, nhìn sang Thúy Lan rồi trở lại nhìn dì. Một tiếng thở não nề như đã trải qua một đêm dài đầy tăm tối. Giọng nói ông đặc lại kế bên người ông yêu thương nhất.

“Nàng à…Anh biết…Chúng ta vẫn ở đây…”

Tôi quay mặt đi chỗ khác. Cảm giác như mình đang nhìn vào điều gì đó quá riêng tư để có thể đứng chứng kiến.

Nhưng cái vấn đề là chúng tôi chưa được cởi trói. Tôi cố vùng vẫy mạnh hơn nhưng dây buộc vẫn quá chặt. Tôi thì chỉ muốn chửi thầm gã điên này tự dưng bắt người ta về giờ tự hẹo luôn, không thèm cởi trói cho bọn này. Thật là tức chết đi mà!

Đột nhiên, anh Hải không biết bằng cách nào đó lại đứng dậy khỏi ghế. Dây thừng từ khi nào đã bị cắt đứt ra và rơi xuống đất. Anh tháo bịt miệng của tôi. Ơn trời ạ! Bây giờ tôi mới được hít thở không khí bình thường. Tôi nói:

“Anh Hải! Anh tự cởi trói hồi nào hay vậy?”

Hải vòng ra sau, vừa dùng một con dao rọc giấy để cắt dây cho tôi vừa nói:

“Vừa xem kịch vừa cắt dây đấy được chưa? Anh là công an mà. Mấy trò con nít này có làm khó được anh này đâu.”

Không lâu sau, tôi đã được cởi trói. Anh Hải tiếp tục việc cắt dây cho chú Ba Triết và dì Hương. Cổ tay của chúng tôi bị sưng hằn lên dấu dây thừng hết cả.

Tôi nhanh chóng tiến đến gần chỗ của Thúy Lan, mò mẫm trong người của lão Hùng xem có thứ gì hữu dụng không. Tôi tìm thấy một chiếc chìa khóa, có vẻ dùng để mở chốt dây xích và một con dấu to bằng một cái đĩa cũng khắc những họa tiết Mạn Đà La phức tạp của Hoa Thần. Đồng thời, tôi thu hồi lại “Mề đay của tiên cá” lại cho chú Ba Triết. Ông cầm nó lên mà nói:

“Chắc sau chuyến này ta phải đem nó cho Hội đồng bảo quản thật kỹ mới được. Quá nguy hiểm để rơi vào tay của người thường.”

Sau khi mở khóa cho Lan, cô ấy ôm tôi vào lòng thật chặt. Giọng cô run run vẫn còn những dư âm vừa rồi:

“Tui…tui sợ quá bà ơi…”

Tôi vỗ về cô ấy: “Không sao. Ổn hết cả rồi. Đừng sợ nữa. Có mọi người ở đây rồi.”

Tôi hướng mắt về chú Ba Triết và dì Hương. Ánh mắt của họ như muốn tránh né chúng tôi, giấu đi nỗi hổ thẹn của những người lớn phải làm gương cho thế hệ con cháu. Nhưng tôi không ý kiến gì cả. Tôi chỉ nghĩ rằng thế hệ nào cùng có những bất ổn của riêng mình. Tôi nhỏ nhẹ nói:

“Tụi con không có ý phán xét hai người đâu.”

Tôi có thể thấy ánh mắt của họ trở nên sáng hơn đôi chút. Tôi nói thêm:

“Đó không phải lỗi của cô chú. Tụi con biết cô chú đã rất cố gắng để có chúng con như ngày hôm nay.”

Chú Ba Triết tính nói rồi lại thôi rồi lại ậm ừ nói:

“Cô chú xin lỗi các con vì đã để xảy ra nông nỗi này…Chú không biết nên đối mặt cảm xúc của mình khi ngày này đến…Chú…”

Dì Hương vỗ vai chú Ba Triết an ủi. Cô thay người chồng chưa cưới của mình nói tiếp phần còn lại:

“Dì xin lỗi các con vì đã che giấu chuyện này bấy lâu nay. Tụi dì thật sự không muốn các con phải tổn thương. Có những câu chuyện người lớn đã trải qua nhưng vẫn không thể thoát ra được. Những sai lầm của tuổi trẻ cô chú đã liên lụy rất lớn đến các con. Đó là điều không tốt mà một người lớn nên làm.”

Tôi: “Không đâu ạ. Tụi con thông cảm và tha thứ hết.”

Dì Hương: “Nhưng mà…”

Thúy Lan: “Mai nói đúng đấy, mẹ ơi. Hai người không có lỗi gì cả…”

Lan rời khỏi bàn tế mà chạy đến ôm chằm lấy dì Hương và chú Ba Triết. Cô dụi đầu vào hai người mà khóc thút thít như một đứa trẻ:

“Chào mừng cha mẹ…đã trở về…Hức…”

Dì Hương và chú Ba Triết khẽ nhìn nhau mỉm cười và cùng nhau ôm lấy Thúy Lan. Tôi và anh Hải đứng nhìn cảnh tượng gia đình đoàn tụ mà không khỏi ấm lòng. Anh Hải khịt mũi đầy tự hào rằng:

“Anh công an này đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Xin đồng chí Ngọc Mai cho tôi một đánh giá đi nào.”

Thật là hết cách với anh chàng này. Nhưng không thể phủ nhận được công lao của anh. Tôi giơ ngón cái lên và nháy mắt với anh ấy.

“Mười điểm không có nhưng!”

Anh Hải vui sướng vô cùng khi được tôi khen. Anh nhảy cẩng lên như một cậu nhóc vừa được tặng cho món đồ chơi yêu thích vậy. Chắc do quen với nhau hết rồi nên ảnh mới lộ ra vẻ trẻ con như vậy. Đúng là phiền chết được. Nhưng nghĩ lại cũng khá dễ thương nhỉ.

Sau một hồi hàn huyên về tình cảm gia đình, chú Ba Triết trở lại với vấn đề chính. Ông cầm con dấu Mạn Đà La Hoa Thần lên rồi nhìn về cánh cổng to lớn bằng đá đã bị niêm phong từ rất xa xưa. Ông khẽ sờ soạng các hoa văn phù điêu trên cánh cổng như để tìm kiếm thứ gì đó. Và ông phát hiện một vết lõm kỳ lạ. Ông nhìn vào vết lõm rồi nhìn vào con dấu thật lâu. Ông hỏi tôi rằng:

“Mai à, cháu đã sẵn sàng đi đến với bí ẩn cuối cùng chưa?”

Cảm xúc của tôi tuy thật khó diễn tả thành lời, nhưng khát khao của một kẻ tìm kiếm sự thật vẫn luôn âm ỉ như đốm lửa hồng giữa đống tro tàn. Tôi hít một hơi thật sâu và đáp:

“Vâng, cháu sẵn sàng rồi!”

Chú Ba Triết bắt đầu đưa con dấu lên vết lõm. Nó vừa như in. Con dấu xoay một vòng cho đến khi nó khớp với phần còn lại của hoa văn. Nhưng dòng ánh sáng đỏ chạy len lỏi lên các hoa văn, tọa thành những dải ký tự khó hiểu mà chỉ có chú Ba Triết mới hiểu được. Cảnh cổng hoàn tất quá trình giải mã và mở ra, gây rung lắc dữ dội như một trận động đất. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi thứ đang ẩn mình đằng sau cánh cổng to lớn kia.

Cánh cổng mở ra, bên trong là một không gian hang động khổng lồ. Và trọng tâm là một cái hố to lớn bị bao phủ bởi hàng trăm, hàng ngàn rễ cây chằng chịt. Một số thì trườn ra khỏi miệng hố. Cái hố ấy được niêm phong lại bằng một dải hàng rào dây thừng, rải rác trên đó là vô số loại bùa chú cổ trông như một nghi thức cổ xưa nào đó. Ở phần tâm của cái hố, vị trí mà các rễ cây xuất phát là một khoảng đen không đáy. Kích thước của nó có thể to gần bằng đường kính của một thân cây cổ thụ.

Nguồn cơn của thứ mùi hôi thối tràn ngập khắp khu rừng cao su cũng bắt đầu từ đây. Hậu vị của nó tanh tưởi và ngọt lạnh như mùi của hoa cỏ đã thối rữa. Chúng tôi phải dùng tay che mũi lại để đỡ phải hít cái mùi kinh khủng đó.

Chú Ba Triết quan sát cái hố kỳ lạ rồi ông nhìn vào các lá bùa được dán trên dây thừng. Tôi đoán với kinh nghiệm từng là một pháp sư, ông chắc hẳn sẽ nhận ra đó là loại bùa nào. Chú Ba Triết nói:

“Đây có lẽ là loại bùa trấn yểm của người Chăm Pa cổ. Nhưng tiếc là ta không biết cách nó hoạt động thế nào.”

Khu vực xung quanh dường như cũng đã có dấu hiệu của một cuộc khai quật từ rất lâu. Có bàn ghế, hệ thống chiếu sáng đã bị hư hỏng nặng. Một số loại hành lý đã cạn lương thực có từ những thập niên 60. Thậm chí có cả…một bộ xương chết khô từ lâu.

Thúy Lan sợ hãi nấp sau lưng tôi, run rẩy nói:

“Trời ơi, đó là xương người hả? Ôi đáng sợ quá, Mai ơi!”

Cũng không trách cho tình trạng tâm lý bất ổn hiện tại của cô ấy do phải chứng kiến quá nhiều cú sốc trong thời gian ngắn. Anh Hải mạnh dạn tiến gần đến bộ xương. Nhận ra một vật thể trông như một cái ống da đã bị bong tróc vài chỗ. Anh mở ra xem và bên trong là một tờ nhật ký đã ố vàng. Một số trang đã bị rách, cháy xém và phai mực theo thời gian. Anh gọi mọi người lại:

“Này! Ở đây có một tờ nhật ký này!”

Tất cả chúng tôi ùa lại xem nội dung của tờ nhật ký bên trong. Nó được viết bằng tiếng Anh nên tôi cầm lên và đọc lại nội dung cho mọi người cùng xem.

***

Bản dịch từ cuốn sổ tay của Tiến sĩ Arthur Bennett, nhà khảo cổ học người Mỹ.

Ngày 12 tháng 4 năm 1971

Chúng tôi đã đến Minh Dạ theo lời kể của dân làng về một phế tích cổ nằm sâu trong rừng cao su phía Tây. Nơi này mang một bầu không khí rất kỳ lạ. Chim chóc không hót. Động vật dường như tránh xa khu vực này. Một vài công nhân nói rằng họ nghe thấy tiếng ai đó đang hát từ dưới lòng đất vào ban đêm. Tôi cho rằng đó chỉ là mê tín địa phương.

Ngày 19 tháng 4 năm 1971

Chúng tôi đã phát hiện một ngôi mộ cổ xưa thuộc văn hóa Chăm Pa. Sau khi dọn dẹp cỏ dại và dây leo, nó dẫn chúng tôi xuống một mật đạo nằm sâu dưới lòng đất. Ở đó có rất nhiều di tích cổ kỳ lạ. Có không gian tế lễ, các phòng giam, khoảng không lớn để tập hợp được nhiều người. Nhưng quan trọng nhất là phía sau cánh cổng khổng lồ ấy là một cái hố cực kỳ rộng lớn. Dưới đáy hố không có nước, cũng không có dấu hiệu từng là hang động tự nhiên. Nó giống như một thứ gì đó đã từng mọc lên từ đây. Vô số rễ cây khổng lồ phủ kín các bức tường. Tôi chưa từng nhìn thấy loài thực vật nào như vậy.

Ngày 25 tháng 4 năm 1971

Đêm qua, một vật thể phát sáng lao xuống khu rừng cách khu khai quật khoảng vài kilômét. Chúng tôi đã tìm thấy nó. Nó là một tảng thiên thạch ước tính bằng một quả bóng. Tôi tạm gọi nó là “Reminar – 7101”.

Ngày 28 tháng 4 năm 1971

Nhóm nghiên cứu đã tiến hành kiểm định Reminar - 7101. Kết quả cho thấy vỏ ngoài của Reminar - 7101 có chứa phần lớn nguyên tố Iridium cùng với với các hợp chất khác. Ngoài ra, vẫn còn một số đặc tính bất thường nhưng chưa có số liệu hay kiểm tra cụ thể. Chúng tôi vẫn đang tích cực nghiên cứu thêm.

Ngày 7 tháng 5 năm 1971

Điều không tưởng đã xảy ra. Reminar – 7101 đã nứt ra. Bên trong là một bào thai kỳ dị, màu đỏ au. Nó có vẻ như không thuộc một giống loài nào trên Trái Đất cả. Nó trông như đang ngủ. Tôi không biết tại sao, nhưng khi nhìn vào nó, tôi có cảm giác như nó đang mơ thấy chúng tôi.

Ngày 11 tháng 6 năm 1971

Người dân địa phương báo cáo về một ngôi sao băng thứ hai. Chúng tôi đặt tên cho nó là “Reminar – 7102”. Chúng tôi đã tìm kiếm suốt ba ngày. Nhưng không tìm kiếm được tung tích của nó. Nó giống như chưa từng tồn tại.

Ngày 16 tháng 6 năm 1971

Những chuyện kỳ lạ bắt đầu xảy ra. Một công nhân nói rằng anh ta nhìn thấy người vợ đã chết của mình đang đứng dưới hố. Một người khác khẳng định đã nghe thấy tiếng mẹ mình gọi tên. Tôi bắt đầu nghe thấy tiếng tụng kinh. “Sa-ha-sa Phụ-xà, Sa-ha-sa Ba-đà, Phú-pa Đề-vị, Sát-va-sắc ti!” Đó là cùng một giai điệu đã ám ảnh chúng tôi thời gian vừa qua.

Ngày 18 tháng 6 năm 1971

Không ai trong số chúng tôi ngủ được. Chúng tôi liên tục mơ thấy một cái cây khổng lồ. Nó cao đến mức xuyên qua bầu trời. Các cánh hoa của nó mang hình dáng của vô số cánh tay và cẳng chân người. Phần trung tâm nở rộ ra vô số con mắt. Khi tỉnh dậy, chúng tôi đều nhớ cùng một giấc mơ. Điều này là không thể.

Ngày 22 tháng 6 năm 1971

Một thành viên trong đoàn đã biến mất. Chúng tôi đã tìm thấy anh ta dưới đáy hố. Anh ta đang nói chuyện với các rễ cây. Anh ta nói rằng: "Ngài đang ngủ. Ngài sẽ nở hoa."

Ngày 23 tháng 6 năm 1971

Thảm họa đã ập đến chúng tôi. Cái bào thai đã biến mất. Nó bằng cách nào đó đã chui vào cơ thể của David. Quá trình biến đổi diễn ra chỉ trong vài phút. Toàn thân anh ta co gập lại. Từng khớp xương nứt toác. Khô héo đi như da bọc xương. Một bản sao khác chui ra từ cơ thể anh. Cách nó cười trông thật kinh tởm. Nó không còn là con người. Nó đã giết tất cả mọi người. Tôi là người duy nhất sống sót. Tôi đã đâm chết nó với chút sức lực cuối cùng. Nhưng tôi biết thứ đó chưa chết.

Ngày 17 tháng 7 năm 1971

Tôi đã bị mắc kẹt dưới lòng đất. Lối ra đã sụp đổ. Những rễ cây thì vẫn tiếp tục phát triển. Tôi tìm thấy những văn tự cổ bằng tiếng Việt và chữ Chăm. Tôi bắt đầu tin rằng đây không phải là một di tích. Nó là một nhà tù. Hoặc một cỗ quan tài chôn sống thật sự.

Ngày 8 tháng 8 năm 1971

Giờ tôi đã hiểu. Cái hố này không phải nơi chôn cất. Nó là nơi phong ấn một thực thể cổ xưa. Tên của nó đã bị xóa khỏi lịch sử. Nhưng trong một số mảnh ghi chép còn sót lại, người xưa gọi nó là Hoa Thần. Khi Hoa Thần thức tỉnh, nó sẽ gọi những hạt giống của mình từ giữa các vì sao. Người xưa gọi chúng là những bông hoa đến từ bầu trời. Còn chúng tôi đã gọi chúng là Reminar.

Ngày 14 tháng 8 năm 1971

Nếu ai đó tìm thấy cuốn sổ này...

Xin đừng đánh thức ngài.

Tôi đã dựng một phong ấn tạm thời bằng dây thừng nghi lễ và bùa chú học được từ các thầy cúng địa phương cùng những ký tự Chăm cổ. Phong ấn này sẽ không tồn tại mãi mãi. Nó chỉ có thể kéo dài thời gian. Tôi cũng tìm thấy ghi chép về năm món trang sức được chế tác từ san hô hồng. Chúng dường như có khả năng bảo hộ tâm trí con người khỏi ảnh hưởng của Hoa Thần và có thể được dùng để gia hạn phong ấn.

Hãy tìm chúng.

Hãy tìm đủ năm món.

Và hãy đọc câu thần chú: “Sa-ha-sa Phụ-xà, Sa-ha-sa Ba-đà, Phú-pa Đề-vị, Xơ-va-ru-pam, Pra-ka-ta-ya-ti!”

Nếu không...

Khi những ngôi sao lại rơi xuống...

Thì nhân loại đã quá muộn.

-Arthur Bennett-

***

Khi đã đọc xong những dòng nhật của cố khảo cổ học, cả năm chúng tôi nhìn nhau như xác nhận điều gì đó. Tôi lấy trong túi áo của mình ra. Và ơn trời, nó vẫn ở đó. Cái “Mề đay của san hô hồng”.

“Chắc ý ông ấy nói là thứ này nhỉ?” Tôi nói.

Những người còn lại bắt đầu lấy trong túi ra những món trang sức tương tự từ san hô hồng. Anh Hải là chiếc nhẫn. Thúy Lan là đôi bông tai, dì Hương là vòng tay. Tôi bối rối vì nhận ra còn một món cuối cùng tôi vẫn chưa trao cho bất kỳ ai trong số họ. Và rồi chú Ba Triết xòe ra một chiếc ghim cài áo đính san hô hồng lên. Ông khẽ nói:

“Có phải thứ con cần tìm không, Mai?”

Vậy hóa ra chú Ba Triết đã giữ nó bên mình bấy lâu nay mà tôi không biết. Mọi chuyện coi như ổn thỏa. Chúng tôi đứng thành năm vị trí khác nhau bên thành hố sao cho tất cả hướng nhìn chúng tôi có thể thấy mặt nhau. Từng người trong chúng tôi bắt đầu đưa cổ vật của mình ra và cùng nhau đọc câu thần chú:

“Sa-ha-sa Phụ-xà, Sa-ha-sa Ba-đà, Phú-pa Đề-vị, Xơ-va-ru-pam, Pra-ka-ta-ya-ti!”

Mặt đất bắt đầu có những rung động mạnh, những lá bùa trên dây thừng bắt đầu tung bay dù không có tí gió nào. Các rễ cây cũng bắt đầu phản ứng dữ dội, liên tục mọc dài và rút ngắn ngổn ngang như đàn rắn. Tưởng như không gian di tích này sắp sụp đổ. Thế giới xung quanh chúng tôi dường như đang quay cuồng. Nhưng chúng tôi mặc kệ tất cả mà vẫn tiếp tục niệm chú:

“Sa-ha-sa Phụ-xà, Sa-ha-sa Ba-đà, Phú-pa Đề-vị, Xơ-va-ru-pam, Pra-ka-ta-ya-ti!”

Luồng gió từ trong hố bùng lên mạnh hơn. Tóc tai, quần áo chúng tôi cứ bay phập phồng theo sức gió. Những lá bùa bắt đầu bay ra, xoay cuộn lại thành một dòng lốc xoáy quanh chúng tôi như vũ bão. Nhưng không ai trong chúng tôi dừng lại. Sau tất cả, chúng tôi hiểu rằng thế giới này đang cần giải cứu. Chúng tôi đều đồng lòng quyết tâm phải làm được, phải làm cho bằng được. Để tìm chân thân của sự thật.

Một luồng sáng trắng phát ra từ miệng hố. Ánh sáng bùng lên mạnh tới nỗi đẩy xa chúng tôi đi. Nó bao trùm khắp mọi ngóc ngách xung quanh cho đến khi tất cả chỉ còn là một màu trắng xóa.

***

Tôi mơ hồ tỉnh lại. Nhận thấy bản thân đang ở một nơi vừa xa lạ nhưng cũng vừa cảm giác đã thấy ở đâu đó.

“Đây không lẽ là…giấc mơ của mình sao? Lối vào điện thờ của Hoa Thần.” Tôi thầm nghĩ.

Một đoạn đường dài mờ ảo bằng đá, khắc trên nó là những ký tự cổ lạ lùng phát quang. Những hàng cột Obelisk đen được quấn quanh bởi những cành cây huyết mạch như xương xẩu đang nhịp đập. Xung quanh là khoảng không vô tận, lấp lánh những vì sao xa xôi. Không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi đang ở trong chính giấc mơ về Hoa Thần hằng đêm. Nhưng giờ là bằng xương bằng thịt, bằng chính cơ thể tôi thật sự. Chỉ có điều, nơi này khác ở chỗ không còn tiếng tụng kinh xa xăm nữa. Chỉ còn lại sự yên tĩnh đến yên bình.

Đột nhiên, tôi nghe có tiếng mèo kêu.

“Meo…”

Tôi nhìn xuống. Và tôi bất ngờ vô cùng.

Một con mèo lông trắng, mắt hai màu xanh và vàng.

Đây chẳng phải là bé Mon sao?

“Meo…”

Bé Mon chậm rãi nheo mắt nhìn tôi. Tôi ngồi xổm xuống nhẹ nhàng hỏi em ấy.

“Bé Mon? Sao em lại ở đây?”

Chú mèo không kêu nữa. Nó hướng mắt nhìn về phía trước. Một tia sáng dịu dàng cuối con đường đang lóe lên. Tôi đứng dậy, hướng hết sự tập trung của mình vào tia sáng ấy. Và tôi biết chúng tôi phải đi về đó.

Đang tải câu hỏi…

Bình luận chương

Trao đổi về chương này với tác giả và độc giả khác.

Enter để gửi · Shift + Enter xuống dòng

Tác phẩm liên quan

Gợi ý dựa trên thể loại của truyện.

Lời mời gọi từ cổ vật

Chương 8: Bí ẩn được khai quật·Lang Khải

0:00 / 0:00