Bóng nướcTriêu Triêuvisibility11 lượt xem
chevron_left
chevron_right

Đọc truyện

Chương 4: Chuyện cũ

Cái ngày vợ ông dọn đồ đạc ra đi, cô ấy không làm ầm ĩ, chỉ lặng lẽ để lại một tờ giấy xé vội từ cuốn sổ tay trên bàn ăn. Tờ giấy không dài, chỉ có vỏn vẹn đôi ba dòng chữ viết bằng mực xanh. Vậy mà mười mấy năm nay, ông Hai vẫn nhớ như in, nhớ từng nét sổ, nét móc của cô ấy:

"Em không muốn sống như một cái bóng bên lề cuộc đời của anh nữa."

Lúc đó ông giận dữ lắm. Ông nghĩ mình đi cày ngày cày đêm, đem tiền về nuôi gia đình, không cờ bạc, không gái gú bê tha, như vậy còn chưa đủ tư cách làm một người chồng tốt hay sao? Ông đã vò nát tờ giấy đó rồi quăng vô sọt rác. Nhưng tờ giấy thì cháy thành tro bụi chứ cái nội dung của nó thì cứ găm chặt vào đầu ông, không cách nào xóa được.

Cái bóng.

Mãi đến sau này, khi cái căn nhà này chỉ còn lại một mình ông với bốn bức tường sơn trắng, ông mới lờ mờ hiểu ra. Đôi khi, con người ta sống với nhau trên đời, người ta không chỉ cần cơm ngon áo đẹp để nuôi cái xác. Người ta cần được lắng nghe, cần được nhìn thấy bằng xương bằng thịt. Mà cái điều giản đơn đó, suốt mười mấy năm chung sống, chưa một lần ông thật sự làm cho vợ mình.

Gần nửa đêm, ông Hai leo lên giường nằm, cố ép hai con mắt nhắm lại để tìm giấc ngủ. Nhưng giấc ngủ đêm nay đến chậm chạp và gian nan như một chuyến đò dọc mùa nước cạn khó mà di chuyển.

Trong cái khoảng không gian lưng chừng giữa thức và ngủ, cái ranh giới mỏng manh giữa thực và mơ bắt đầu mờ nhạt đi. Những ký ức cũ kỹ xửa xưa từ cái xó xỉnh nào của tuổi thơ bỗng dưng ùng ục nổi lên mặt nước tâm thức, giống như những lục bình bị con nước dữ đẩy từ đáy sông trồi lên mặt lòng.

Ông nghe thấy tiếng ve kêu râm ran của những trưa hè nắng cháy. Ông ngửi thấy cái mùi bùn non tanh tao, nồng nồng sau mỗi trận mưa rào ngoài bãi sông. Ông thấy những rặng dừa nước ngã bóng dài trên dòng kênh rạch, thấy bãi đất hoang sau nhà đầy cỏ gấu. Và văng vẳng từ một cõi xa xăm nào đó, có tiếng ai đó đang ca một câu vọng cổ cải lương, giọng ca ngọt lịm mà buồn, nghe như tiếng mưa gõ vào lòng đất lạnh.

Xa lắm. Mờ lắm. Nhưng sao mà quen thuộc đến thắt lòng.

Ông Hai nhíu chặt đôi lông mày trong bóng tối dày đặc của căn phòng. Có một cái ký ức nào đó, một cái bí mật nào đó của đời ông đang muốn xé rách cái lớp vỏ bọc bình yên mười mấy năm nay để quay về. Một điều gì đó ông đã cố tình chôn thật sâu, thật kỹ từ cái ngày ông dứt áo rời quê lên thành phố lập nghiệp, sâu đến mức chính ông cũng tưởng mình đã quên sạch từ lâu rồi.

Ông không biết tại sao, nhưng kể từ cái khoảnh khắc ông nhìn thấy cục yết hầu nhỏ xíu trên cổ cậu vũ công mặc áo lụa màu khói đêm qua, những ký ức rêu phong ấy bắt đầu cựa quậy. Nó giống như một con cá trê mắc lưới dưới đáy ao nhiều năm trời tưởng đã chết khô, bỗng một ngày gặp mưa rào lại quẫy đuôi sống dậy, quẫy mạnh đến mức làm đau hết cả tâm can của ông.

Ngoài cửa sổ, gió đêm cuối năm thổi qua những tán cây sa-pô-chê, tiếng lá cọ vào nhau xào xạc nghe như tiếng người thầm thì trò chuyện.

Ông Hai từ từ nhắm mắt lại. Lần này, trong giấc mộng mị, ông không còn nhìn thấy cái sân khấu lấp loáng ánh đèn led của khách sạn năm sao nữa. Ông cũng không thấy cậu vũ công áo khói đâu.

Ông chỉ thấy một khúc sông quê nghèo xơ xác. Có một bụi chuối già xiên vẹo bên bờ đất lở. Và văng vẳng bên tai ông là tiếng hát trong trẻo của một thằng nhỏ nào đó, giọng hát từ cái thuở nào vọng lại. Giọng hát xa xăm đến mức ông không tài nào nhớ nổi khuôn mặt thằng nhỏ đó tròn hay méo, nốt ruồi mọc ở đâu.

Nhưng ngực trái của ông Hai bỗng dưng đau nhói. Như thể ông đã từng đánh rơi một thứ báu vật độc nhất vô nhị của đời mình ở ngay cái bến sông nghèo nàn đó.

Mà ngày mai, hoặc giả là một ngày rất gần sắp tới, ông bắt buộc phải lục lọi ký ức để nhớ ra cho bằng được. Nếu không, cái khoảng trống hoác trong lồng ngực này sẽ gặm nhấm ông cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay.

Đêm đó, ông Hai mơ thấy mưa.

Cái thứ mưa mà ròng rã kéo dài, sũng nước. Nó không giống với thứ mưa trên thành phố, thứ mưa chỉ chực chờ mây đen tụ lại rồi trĩu nặng rớt bộp xuống trên mái khách sạn rồi mất hút giữa mớ âm thanh còi xe hỗn tạp cùng ánh đèn giao thông xanh đỏ. Mưa quê mang theo cái mùi của sình non tanh nhè nhẹ, mùi rạ mục từ những cánh đồng vừa gặt xong, và cả cái mùi của con nước ròng đang lầm lũi dâng lên từng giấc, nhỏ giọt dưới chân cây cầu khỉ trơn tuột.

Trong lòng cái giấc chiêm bao đó, ông thấy mình quay ngược thời gian, trở lại làm thằng Hai mười hai tuổi.

Cái thằng nhỏ chân đất, da đen nhẻm vì cháy nắng, ở trên cởi trần, ở dưới thì mặc cái quần cụt bạc màu sờn chỉ. Trên vai nó vác một cây cần câu bằng trúc. Con đường đất hiện ra ngoằn ngoèo, một bên là rặng dừa nước nghiêng nghiêng, một bên là những lá chuối già xiên vẹo nghiêng nình đón gió sông.

Văng vẳng từ phía bến nước, có tiếng ai đó đang hát.

Giọng hát cao vút, trong veo như sương sớm, ngọt lịm như gáo nước mưa đầu mùa hứng trong cái lu sau hè đã qua đợt lóng phèn. Thằng Hai trong mơ ngoảnh đầu nhìn lại. Kìa, có một đứa nhỏ đang ngồi vắt vẻo trên cái gốc cây gáo ngã nghiêng bên mé sông lở. Nó vừa cất giọng ca, vừa phe phẩy chiếc lá chuối rách tả tơi trong tay để mát. Ánh nắng chiều tà chiếu xuống hai bờ vai gầy guộc của nó, mỏng tang và lấp lánh như những sợi tơ tằm.

“Lẹ! Đi về mày, sập tối tới nơi rồi!” Thằng Hai trong mơ vãy tay gọi lớn.

Đứa nhỏ nghe tiếng, chậm rãi quay đầu lại nhìn ông rồi nở một nụ cười tươi rói.

Chính cái nụ cười lấp loáng ánh nắng chiều đó đã bóp nghẹt tim ông, khiến ông giật mình tỉnh giấc.

Sáu giờ sáng.

Ông Hai ngồi bật dậy trên chiếc nệm cao su đắt tiền. Ngoài cửa sổ ban công, thành phố đã thức giấc, tiếng còi xe, tiếng máy móc rầm rì dội vào phòng. Nhưng, linh hồn gã đàn ông trung niên bây giờ vẫn còn bị bỏ lại đâu đó, mắc kẹt giữa những con rạch nhỏ chằng chịt của miền sông nước ba mươi năm về trước.

Lần này thì ông nhớ ra rồi. Nhớ một cách dứt khoát và đau đớn.

Lẹ.

Cái tên cộc lốc ấy cuối cùng cũng chịu nổi lên khỏi lớp bùn dày của ký ức, sau ba mươi năm ròng rã bị ông cố tình lấp liếm. Nó giống như một chiếc ghe cũ bị dòng nước lũ cuốn đi biệt tích từ cái đời thuở nào, nay bỗng dưng theo một con nước âm thầm dạt về, nằm chơ vơ ngay bến cũ.

Ông Hai ngồi im thin thít trên mép giường một hồi lâu. Mình mẩy ông cứng đờ, không động đậy, không nói một lời. Ông cứ để mặc cho những hình ảnh của một thời khốn khó chậm chạp lội ngược dòng quay về, từng chút một, rõ mồn một như vừa mới hôm qua.

Thằng Lẹ tên thật trong khai sinh là Lê Văn Lệ. Nhưng ở cái xóm nghèo ven sông đó, chẳng có ai gọi nó bằng cái tên đầy chữ nghĩa vậy. Người lớn đi ngang thấy nó thì kêu: "Ê, thằng Lẹ!", đám con nít rủ đi tắm sông cũng hét: “Lẹ ơi, Lẹ!”. Riết rồi cái tai nó quen, chính nó cũng quên mất trên đời này mình còn có một cái tên cúng cơm là Lệ.

Nhà thằng Lẹ nghèo rớt mồng tơi, nghèo đến mức cái mái lá cũng không che nổi vạt nắng trưa. Má nó quanh năm suốt tháng gánh chuối xiêm ra ngồi đầu chợ, kiếm vài ba cắc bạc lẻ nuôi con. Cha nó thì vắn số, bỏ mạng dưới lòng sông từ hồi nó mới lên năm. Hai mẹ con nương náu trong căn nhà lá rách nát nằm sát sạt mé sông, cứ đến mùa nước nổi là nhà cửa lại xiêu vẹo, dập dềnh theo con nước. Có những đêm nước dâng lên tận thềm nhà, má nó phải thức trắng đêm, ôm cây cột kèo mà khóc rấm rứt vì sợ con nước dữ kéo tuột cả cái gia tài duy nhất xuống lòng sông sâu.

Ngặt cái, thằng Lẹ ít khi nào chịu mở miệng than vãn nửa lời. Nó là cái đứa hay cười, cái nụ cười mọc ra trên khuôn mặt lúc nào cũng lem luốc vết nhọ nồi. Nó cười từ sáng tới tối, cười như thể cuộc đời này chẳng có gì để mà buồn lòng. Người ta chọc ghẹo chuyện nhà nghèo nó cũng cười, má nó đi chợ về mệt mỏi la rầy nó cũng cười hề hề. Giống như trong cái hình hài gầy gò, lòng của nó có giấu một cái túi đựng đầy nguồn vui, xài hoài không cạn.

Thằng Hai gặp thằng Lẹ lần đầu vào một buổi trưa hè nắng đổ lửa. Hôm đó, thằng Hai đang lén leo lên cây ổi mỡ nhà ông Tư xem có trái nào chín không, ai dè bị con chó mực phát hiện rượt trối chết. Cu cậu hoảng hồn nhảy đại xuống bờ mương, thế là chân trượt vỏ chuối nên ngã lăn cù mèo xuống vũng bùn quánh. Lúc ngoi cái đầu lên, mặt mũi tóc tai đen thui đen thích như ông táo, chưa kịp khóc mếu máo thì đã nghe tiếng cười khanh khách vang lên phía sau bụi sậy.

Nó quay mặt lại nhìn. Thấy một thằng nhỏ ốm nhom ốm nhách, mặc cái áo vá vai đang ôm bụng cười đến mức chảy cả nước mắt nước mũi. Đó là thằng Lẹ. Hai đứa trẻ quen nhau từ cái vũng bùn tai quái đó.

Con nít xứ quê dễ kết nghĩa tâm giao lắm. Chẳng cần thề thốt cao sang, chỉ cần chia nhau nửa trái ổi cắn đôi còn dính cát, nhường nhau một con cá rô đồng nướng trui, hay những buổi chiều tà rủ nhau nhảy tùm xuống sông tắm mát, vậy là thành bạn chí cốt, thành tri kỷ một đời.

Nhưng thằng Lẹ khác những đứa con trai khác trong xóm. Cái điều đó, từ ông già bà cả cho tới đứa con nít mới biết bò đều nhìn ra được. Nó không thích đá banh bằng trái bưởi khô, không ham đánh lộn chia phe, cũng chẳng bao giờ hứng thú với trò leo cây bắt tổ chim dồng dộc. Cái thứ duy nhất làm hai mắt nó sáng rực lên là hát. Nó hát bất chấp không gian thời gian. Đang lội mương bắt cá nó cũng nghêu ngao, đang nhổ cỏ gấu sau vườn cũng ư ử trong họng, thậm chí đang ngồi bên mâm cơm với dĩa rau muống luộc nó cũng gõ đũa ca vài câu.

Má nó nhiều lần phát bực, cầm cái vá múc canh gõ vô đầu nó cái cốp:

"Ăn cơm thì lo ăn đi cha nội, ca hoài mưa lụt nhà bây giờ!"

Nó không khóc, chỉ xoa xoa cái đầu, nhe răng cười rồi lại tiếp tục hát nhỏ xíu trong miệng. Giọng thằng Lẹ cao, sáng và trong trẻo như tiếng chim chiền chiện hót giữa đồng. Người lớn trong xóm nhiều khi đang cầm cuốc cuốc đất, nghe tiếng hát của nó vút lên từ phía bến sông, cũng phải ngừng tay, tựa lưng vào cán cuốc mà lắng nghe, lòng dạ tự dưng thấy nhẹ bẫng.

Nhưng rồi, cái sự hồn nhiên đó không ở lại lâu. Khi hai đứa bước vào tuổi mười ba, cái tiếng hát của thằng Lẹ bắt đầu trở thành một cái dằm đâm thốn lòng người xóm cũ.

Đang tải câu hỏi…

Bình luận chương

Trao đổi về chương này với tác giả và độc giả khác.

Enter để gửi · Shift + Enter xuống dòng

Tác phẩm liên quan

Gợi ý dựa trên thể loại của truyện.

Bóng nước

Chương 4: Chuyện cũ·Triêu Triêu

0:00 / 0:00